Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2019

THÁNG 4 VÀ NGHĨA TÌNH ĐỒNG ĐỘI


Người nằm trên giường là Trung tá Đặng Văn Việt, Trung đoàn trưởng đầu tiên của Trung đoàn 174, một trong 3 trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ông từng được thực dân Pháp mệnh danh là "Hùm xám đường số 4" do thành tích chỉ huy đơn vị trong Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, bắt sống cả hai chỉ huy binh đoàn Pháp là trung tá Marcel Lepage và Pierre Charton.
Hà Nội một ngày tháng 11 tiết trời trở lạnh, khu điều trị tích cực Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô nằm trên tầng 8 im ắng đến đáng sợ. Từ cửa thang máy đi ra bốn vị tướng quân đội, dẫn đầu là một người đàn ông rất lớn tuổi trong bộ quân phục bạc màu, đôi cầu vai đeo quân hàm trung tướng.
Vừa bước đi, vị trung tướng già dẫn đoàn vừa hỏi cô y tá:
- Cháu cho hỏi ông Việt lão thành cách mạng nằm ở phòng nào?
- Dạ ông ấy nằm ở phòng 810 ạ, ông là thế nào với ông ấy ạ?
- Ông là cấp dưới của ông ấy!
Người đàn ông lớn tuổi trả lời nhanh gọn dứt khoát. Cô y tá tròn mắt, ngỡ ngàng ngước lên nhìn thật kỹ vị tướng đã chạm 94 tuổi đang thoăn thoắt đi lại phía cửa phòng 810.
Bên chiếc giường phủ tấm ra trắng toát, một ông lão gầy guộc đang nằm lim dim ngủ.
Vị trung tướng già chậm rãi đi tới, đôi tay trận mạc to bè gân guốc sẫm đồi mồi khẽ đưa ra nắm lấy tay người đang nằm rồi cất giọng gọi:
- Anh Việt ơi, em là lính của anh đến thăm anh đây.
Ông lão suýt soát 100 tuổi đang nằm trên giường bệnh khẽ trở mình, mở đôi mắt già nua mờ đục ra nhìn hồi lâu rồi nói:
- Ai đấy? Ai đấy?
Một vị trung tướng khác trẻ hơn đứng bên cạnh trung tướng già vội cắt lời:
- Cháu Nguyễn Mạnh Đẩu ở Lục quân đây ạ. Đây là Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tư lệnh Quân khu 4. Bên này là Thiếu tướng Tạ Quang Chính - con trai Bộ trưởng Tạ Quang Bửu; bên này nữa là Thiếu tướng Hồ Thủy - con gái anh Hồ Sỹ Ngận.
Trên giường bệnh, ông lão vừa dứt cơn ho, đưa tay ra nắm chặt tay vị trung tướng rồi khẽ mỉm cười. Ông không nói thành lời nhưng đôi môi run run, những tiếng thở cứ dồn dập thành đợt.
Vị trung tướng già tiếp tục nói:
- Anh Đặng Văn Việt ơi, hổ xám đường số 4 ơi, em Quốc Thước, lính của anh đây. Ngày nào anh làm trung đoàn trưởng, em mới còn là trung đội trưởng, thế mà giờ đã trăm tuổi cả rồi anh ơi...
Nói đoạn, ông đưa gói quà nhỏ đã chuẩn bị kỹ từ nhà cho người đang nằm trên giường bệnh. Căn phòng đầy chật nghĩa tình, những bệnh nhân già khác đang nằm đều ngẩng lên dõi theo câu chuyện, mấy cô y tá và anh bác sĩ trẻ ngơ ngẩn nghe.
Bốn vị tướng đứng vây quanh giường bệnh. Ông lão nằm trên giường dứt tiếng thở khò khè định nói gì đó mà không được. Ánh mắt ông tươi vui hơn hẳn ngày thường.
Vị trung tướng già cười rạng rỡ, nắm chặt tay người thủ trưởng rồi nói:
- Anh mau khỏe, hôm nào anh về bọn em qua thăm, uống rượu, kể chuyện Đường số 4, chuyện kéo cờ ở Kỳ đài Huế... Rồi anh còn đi đánh tennis, đi xe máy, khiêu vũ nữa chứ...
Ông lão nằm trên giường bệnh gật đầu nhẹ, khẽ mỉm cười.
Cô y tá trẻ quay sang hỏi tôi:
- Anh ơi, ông cụ chắc phải là thượng tướng, đại tướng đấy nhỉ?
Tôi nhìn cô một lát rồi trả lời:
- Không em ạ. Ông ấy cả đời chỉ đeo quân hàm trung tá. Nhưng ông ấy là một huyền thoại!
Cô y tá ngơ ngác hồi lâu rồi bất chợt đưa tay lên lau vội giọt nước mắt vừa lăn xuống má...

                                    Đỗ Thái Ân
                                 (Theo nguồn ảnh Giang Mèo)


Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018

Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc


Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi
của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Bác Hồ đọc Bản tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945

        Cách đây 73 năm, ngày 19/8/1945 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi - Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được thành lập, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây nhân dân ta thoát khỏi xiềng xích nô lệ của thực dân phong kiến trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của tinh thần yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đưa nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do, dân chủ. Cách mạng Tháng Tám thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, đập tan ách thống trị, áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân. Nước ta từ một xứ thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Đất nước ta, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Tháng Tám là sự kiện có tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn, bản lĩnh, trí tuệ và ý chí quật cường của dân tộc ta được kế thừa, phát huy lên tầm cao mới trong cuộc đấu tranh do Đảng ta tổ chức và lãnh đạo; là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sự lãnh đạo sáng suốt, tầm nhìn chiến lược, sự nhạy bén tạo thời cơ và chớp thời cơ ngàn năm có một, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Kỷ niệm 73 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2​/9, nhận thức sâu sắc về tầm vóc, ý nghĩa lịch sử trọng đại và những bài học thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, chúng ta càng tự hào về những thành tựu to lớn, những chiến công oanh liệt của nhân dân ta trong suốt 73 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tự hào về đất nước và dân tộc Việt Nam anh hùng, càng tăng thêm nghị lực, niềm tin để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ nặng nề, nhưng hết sức vẻ vang trong giai đoạn cách mạng mới. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dân tộc ta - một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, có trí tuệ, bản lĩnh, truyền thống kiên cường, bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo, đã từng làm nên những chiến công hiển hách, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng thành công một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam muôn vàn thân yêu của chúng ta./.

Thái Ân

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2018

Nguyễn Bình: Trung tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam


NGUYÔN B×NH  
TRUNG T¦íng ®Çu tiªn cña q®nd viÖt nam


Trung tướng Nguyễn Bình là người chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. ông có công trong việc thống nhất lực lượng kháng chiến ở nam bộ và xây dựng ban công tác thành (biệt động) sài gòn.
Trung tướng Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo (sinh năm 1908 tại thôn An Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Sinh ra trong một gia đình nông dân hiếu học và yêu nước, từ nhỏ, ông đã sớm bộc lộ phẩm chất và nhân cách cao cả, một bản lĩnh kiên cường, bất khuất.
Năm 1924, khi vừa tròn 16 tuổi, không cam chịu thân phận làm nô lệ, ông đã tham gia những hoạt động yêu nước, chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và bị truy lùng phải trốn vào Nam hoạt động. Năm 1928, ông gia nhập Quốc dân Đảng, năm 1929, bị bắt và đày ra Côn Đảo. 
Được tiếp xúc với những người bạn tù cộng sản, tiếp xúc với chủ nghĩa Mác, ông đã giác ngộ, đã ly khai với Quốc dân đảng, kiên định theo Đảng Cộng sản để thực hiện ước mơ làm cách mạng, đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Chính vì thế ông đã bị các bạn tù Quốc dân đảng đâm hỏng mắt trái nhưng ông đã nói: “Tuy tôi mất một con mắt nhưng tôi lại thấy sáng hơn khi còn hai con mắt”.
Năm 1935, mãn hạn tù, ông trở về quê nhà. Ông tiếp tục hoạt động, bí mật xây dựng chiến khu Đông Triều, và lại bị bắt một lần nữa. Tuy bị quản thúc nhưng ông vẫn nuôi ý chí cách mạng, bí mật xây dựng Đông Triều làm căn cứ chống Pháp một cách độc lập. 
Năm 1943, ông được Trung ương giao phụ trách binh vận mua sắm vũ khí cho cách mạng ở Đông Triều, Hải Phòng, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đồng thời còn vận động binh lính các đồn Thủy Nguyên, Cửa Ông, thị xã Kiến An cung cấp vũ khí. Nhờ súng đạn nhiều mà Đông Triều trở thành chiến khu vững vàng và chùa Bắc Mã là tổng hành dinh của quân giải phóng chiến khu Đông Triều.
Ông chỉ huy nhiều đánh trận lớn như: đồn Bần Yên Nhân, tổ chức đánh cướp tàu Pháp ở Hạ Lý - Hải Phòng, hạ đồn Đông Triều, diệt đồn Bí Chợ, đánh địch chiếm thị xã Uông Bí,… thu được nhiều lương thực và vũ khí. 
Trận đánh đồn Bần được coi là trận đánh du kích kiểu mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định cả nước chia làm 7 quân khu, Bắc Bộ có 4, ông giữ chức Tư lệnh Đệ tứ quân khu (tức chiến khu Đông Triều gồm các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Phòng, Hòn Gai, Móng Cái và Lạng Sơn).
Tháng 7/1945, ông đem quân đánh chiếm giải phóng thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh), là tỉnh lị duy nhất ở miền Bắc về tay nhân dân trước Cách mạng tháng Tám. Tháng 8/1945, ông dẫn đầu lực lượng từ chiến khu về tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Hải Phòng.
Khi thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Sài Gòn, chiến tranh lan rộng ra toàn Nam Bộ, ông được Hồ Chủ tịch tín nhiệm cử vào miền Nam lo việc thống nhất các lực lượng vũ trang tại chiến trường Nam Bộ. Với tư cách là phái viên của Trung ương Đảng, tháng 11/1945, tại xã An Phú (huyện Hóc Môn), Nguyễn Bình tổ chức “Hội nghị quân sự Nam Bộ” đầu tiên. 
Hội nghị bàn bạc về việc thống nhất các lực lượng vũ trang ở Nam Bộ lấy tên chung là Giải phóng quân Nam Bộ, thống nhất biên chế hình thức chi đội, phân chia khu vực hoạt động, đề ra những giải pháp tiến hành chiến tranh du kích. Trong hội nghị này, Nguyễn Bình được bầu làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ.
Do có biệt tài về quân sự, Nguyễn Bình đã giữ được miền Nam trong những “ngày cuồng phong bão tố”, bẻ gãy được mũi nhọn tiến công của quân viễn chinh Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Bình, các đơn vị bộ đội địa phương được tập hợp lại, chính quy hóa, đi vào nề nếp, đặt mục tiêu đánh Pháp lên trên hết, thống nhất được các nhóm giang hồ kiểu Bình Xuyên. 
Một đóng góp nữa của Nguyễn Bình, đó là đào tạo binh chủng tinh nhuệ luồn sâu đánh hiểm, đột nhập vào thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn là hang ổ của địch, ngày đêm quấy rối, rải truyền đơn, ném lựu đạn, làm cho địch ăn không ngon ngủ không yên. 
Dưới sự chỉ huy mưu lược, quyết đoán và dũng cảm, giữ kỷ luật nghiêm minh, ông lập nhiều chiến công xuất sắc ở những nơi nguy hiểm vào những thời điểm khó khăn nhất. Ông đã góp phần to lớn và việc chỉnh đốn xây dựng chính quyền và củng cố khối đoàn kết toàn dân ở Nam bộ.
Những chiến công buổi đầu của quân dân Nam Bộ được gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Bình, khiến các giới chính trị, quân sự Pháp cũng phải kính nể.
Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam.
Ngày 25/1/1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng. Đây là Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cùng đợt có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các đồng chí Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Lễ thụ phong được tổ chức vào tháng 7/1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên con kênh Dương Văn Dương, Đồng Tháp. Ông trở thành cán bộ quân sự cấp cao thứ hai của Việt Nam, sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương ông ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. Trên đường đi ông bị giặc phục kích, hy sinh tại biên giới Việt Nam-Campuchia.
Trong sắc lệnh số 84/SL ngày 24/2/1952 truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Trung tướng Nguyễn Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chu đáo, chi tiết ghi rõ từng thành tích công trạng của ông rất đặc biệt, dài tới 171 chữ vàng:
“Hoạt động cách mạng năm 16 tuổi; Suốt thời gian trước Tổng khởi nghĩa tham gia đánh Nhật, đuổi Pháp đã có công nhiều trong phong trào tranh đấu và khởi nghĩa ở các tỉnh miền duyên hải Bắc Bộ; Tổ chức đánh tàu commanhdant Bourdait, thu vũ khi xây dựng chiến khu Tư; Tháng 8 năm 1945, được lệnh Tổng khởi nghĩa dẫn bộ đội chiếm Hải Phòng, Kiến An, Đồ Sơn, chống thực dân Pháp đổ bộ, đánh chiếm tàu chiến và tàu vận tải của địch; Được lệnh vào Nam Bộ, trong khi bộ đội ở đó còn một số ít đang bị hàng vạn quân địch bao vây chặt chẽ, đã kiên quyết sáng suốt xây dựng bộ đội lớn mạnh và chỉ huy chiến đấu đánh thắng quân địch nhiều trận lớn trên các chiến trường Nam Bộ; Đã góp phần vào việc chỉnh đốn xây dựng Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất Nam Bộ”.
Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.
Năm 2000, được sự giúp đỡ của Chính phủ Hoàng gia Campuchia, đội công tác của Bộ Quốc Phòng đã tìm được hài cốt Trung tướng Nguyễn Bình đưa về nước ngày 29/2/2000. Lễ truy điệu hài cốt liệt sĩ Trung tướng Nguyễn Bình tổ chức trọng thể theo nghị thức Quân đội và an táng tại nghĩa trang TP Hồ Chí Minh. 
Trong điếu văn đọc tại lễ truy điệu Trung tướng Nguyễn Bình ngày 11/3/2000, Thượng tướng Phạm Văn Trà (Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng lúc đó) đã nêu rõ: “Đồng chí Nguyễn Bình là một người Cộng sản kiên trung, một tướng lĩnh quả cảm, nghĩa hiệp giàu đức hy sinh, lòng dũng cảm và tài thao lược. Đồng chí đã có những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tên tuổi Nguyễn Bình luôn luôn gắn liền với chiến khu Đông Triều, chiến khu vùng Duyên hải Bắc Bộ, với Sài Gòn - Chợ Lớn, Đông Nam Bộ và Nam Bộ. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là một tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam học tập noi theo. Công lao và tên tuổi của đồng chí mãi mãi sáng ngời trên Đài Tổ quốc ghi công…”.
Những lời vàng tuyên dương công trạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tấm Huân chương Quân công hạng Nhất đầu tiên của quân đội và danh hiệu Anh hùng quân đội dành cho Trung tướng Nguyễn Bình là những dấu son chói lọi vinh danh tên tuổi và sự nghiệp của ông trên Đài Tổ quốc ghi công. 
Ông là người con trung hiếu trí dũng vẹn toàn của dân tộc, là tấm gương sáng tận trung với nước, tận hiếu với dân, suốt một đời xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Tên tuổi và công lao của ông xứng đáng được tôn vinh trên khắp cả nước và lưu danh thơm mãi mãi cho các đời sau.

                                                                                      Thái Ân ST